Hiển thị các bài đăng có nhãn tiêu sọ. Hiển thị tất cả bài đăng

Xuất khẩu hồ tiêu có thể đạt 900 triệu USD năm 2014


Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2013 xuất khẩu hồ tiêu đạt kim ngạch khoảng 850 triệu USD và năm 2014 đạt 900 triệu USD.
Theo dự báo của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2013 xuất khẩu hồ tiêu của cả nước đạt từ 125.000 đến 130.000 tấn, kim ngạch khoảng 850 triệu USD và năm 2014 có thể đạt kim ngạch 900 triệu USD.

Tại hội nghị Phát triển hồ tiêu bền vững 2013 tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/10, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA cho biết tính đến hết tháng Chín, cả nước đã xuất khẩu 113.962 tấn hồ tiêu, đạt giá trị 755 triệu USD.

Với lượng hàng đã xuất khẩu này, dự kiến tồn kho cuối năm sẽ hạn hẹp, trong khi sản lượng niên vụ 2014 dự báo không tăng nhiều.

Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường vẫn sẽ ổn định và có thể tăng nên giá tiêu duy trì ở mức đến hết 2013 và ổn định trong 2014.

Tuy nhiên, cảnh báo từ các tổ chức nghiên cứu về nông sản thế giới cho thấy, từ năm 2015 trở đi, sản lượng hồ tiêu thế giới có thể gia tăng, do đó giá cả có thể biến động theo chiều hướng giảm.

Cùng với đó, thị trường nhập khẩu sẽ đòi hỏi chất lượng hàng ngày càng khắt khe hơn.

Từ những dự báo này, VPA cho rằng các cơ quan chuyên ngành và chính quyền các địa phương trồng tiêu cần thống kê lại diện tích thực tế, vì thời gian qua diện tích hồ tiêu trồng mới ngoài quy hoạch phát triển khá nhanh trên những vùng đất không phù hợp.

Đồng thời, VPA cũng cho rằng cơ quan chuyên ngành cần nắm rõ hiện trạng sản xuất điều chỉnh quy hoạch để có chính sách, giải pháp thích hợp cho sản xuất và thương mại.

Đặc biệt, VPA khuyến cáo nông dân hạn chế mở rộng diện tích nơi điều kiện tự nhiên không phù hợp, chuyển từ phát triển về số lượng sang chất lượng, sản xuất theo quy trình sản xuất tốt, xu hướng hữu cơ bền vững.

VPA cũng khuyến cáo nông dân, doanh nghiệp cần chọn thời điểm mua bán, xuất khẩu có hiệu quả nhất; duy trì giải pháp bình ổn thị trường, chủ động điều tiết lưu thông giá cả trong nước và xuất khẩu, hạn chế sự chi phối của các nhà đầu cơ.

Đây là bài học thành công của ngành hồ tiêu, trong đó nông dân và doanh nghiệp đã đồng thuận kiên trì thực hiện trong suốt sáu năm qua.

Đồng thời, để đáp ứng đòi hỏi về chất lượng sản phẩm ngày càng cao của thị trường, cả nông dân và doanh nghiệp chế biến cần nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.

 
read more →

Đồng Nai: mô hình tưới tiết kiệm cho hồ tiêu


Chuyên gia quốc tế khảo sát vườn tiêu tưới tiết kiệm của anh Thắng
Chuyên gia quốc tế khảo sát vườn tiêu tưới tiết kiệm của anh Trần Hữu Thắng
Phương pháp tưới tiết kiệm mà tỉnh Đồng Nai đã và đang áp dụng gần mười năm qua là một trong những “cách giải” hiệu quả cho bài toán tăng năng suất, chất lượng cây trồng, giảm chi phí đầu vào, tiết kiệm nước tưới, hạn chế sâu bệnh.
Từ mô hình điểm…
Nằm ở vùng đất khô cằn thuộc huyện miền núi Xuân Lộc, xã Xuân Thọ có những trang trại tiêu, chôm chôm, sầu riêng, cà-phê và nhiều loại cây trồng khác. Mặc dù ở thời điểm này là mùa khô gay gắt ở vùng Đông Nam Bộ nhưng ở đây vẫn một mầu xanh mơn mởn đến mát mắt. Điều làm nên khác biệt của những trang trại này là được trang bị hệ thống tưới tiết kiệm “made in Đồng Nai” -địa phương đầu tiên áp dụng và nhân rộng mô hình tưới tiết kiệm ra đại trà cho nông dân trên địa bàn tỉnh.
Dẫn chúng tôi đi tham quan vườn tiêu xanh trĩu quả, mỗi gốc tiêu có đường kính hơn 1 m, cao 4 m đến 5 m, ông Trần Hữu Thắng, ấp Thọ Lộc, xã Xuân Thọ kể: “Trong ba năm liền (từ năm 2011 đến 2013), năm nào tôi cũng thấy mấy anh khuyến nông dẫn mấy người nước ngoài đến thăm vườn tiêu của tôi, họ không nói gì chỉ hỏi về năng suất, cách áp dụng kỹ thuật chăm sóc. Lúc đó tôi nghĩ họ đến để tham quan giống như nhiều đoàn khác, nhưng không ngờ, giữa năm 2013, tôi nhận được giấy mời của Hiệp hội Hồ tiêu Thế giới (IPC) đi nhận danh hiệu Người Trồng Tiêu Giỏi Nhất Thế giới, lúc ấy tôi mới biết là họ đến khảo sát vườn tiêu của tôi”.
Bây giờ, ông Thắng đã thành tỷ phú với thu nhập hằng năm khoảng một tỷ đồng. Nói về “bí quyết” để trở thành người trồng tiêu giỏi nhất thế giới, ông Thắng tươi cười cho rằng, đó là do mình mạnh dạn áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm kết hợp với bón phân qua đường ống.
Cách đây chín năm, khi Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai có chương trình hỗ trợ kinh phí lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm để làm mô hình điểm nhân rộng, nhiều nông dân từ chối, cho rằng tưới tràn với số lượng nước lớn theo phương pháp truyền thống cây trồng cũng chết vào mùa khô đừng nói là tưới tiết kiệm. Ông Thắng mạnh dạn cùng cán bộ Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm cho vườn tiêu khoảng một ha của mình. Chỉ một năm sau, năng suất tiêu của ông tăng từ ba tấn lên sáu tấn một ha, năm tiếp theo năng suất tăng lên tám tấn một ha. Từ đó đến nay, năng suất tiêu của ông Thắng luôn giữ ổn định từ tám đến mười tấn một ha, thậm chí có năm vượt hơn 10 tấn một ha. Ông Thắng cho biết: “Nước tưới và bón phân là yếu tố quan trọng nhất đối với cây tiêu. Và không hẳn càng nhiều nước, nhiều phân bón thì cây tiêu càng cho năng suất cao, mà vấn đề là điều tiết nước, phân bón sao cho phù hợp với nhu cầu của cây trong từng giai đoạn phát triển. Thiếu nước, thiếu phân hay thừa nước, thừa phân đều bất lợi cho sự sinh trưởng phát triển của cây trồng. Hệ thống tưới này giúp mình điều chỉnh được lượng phân bón và nước tưới cho cây dễ dàng hấp thụ”.
ông Thắng cho biết thêm: “Trước đây chưa lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm, cần rất nhiều công lao động để tưới nước, bón phân, giờ đây, chỉ có một mình tôi chăm sóc cho cả vườn này. Hơn nữa, nó còn hạn chế đến mức thấp nhất sâu bệnh gây hại, các vườn tiêu ở khu vực này trước đây thường hay bị bệnh “chết nhanh, chết chậm” – một loại bệnh đến nay vẫn chưa có thuốc đặc trị, nhưng khi áp dụng tưới tiết kiệm, bệnh này gần như đã được ngăn chặn”.
Anh Thân Công Cường ở huyện Thống Nhất đang kiểm tra hệ thống tưới tiết kiêm
Anh Thân Công Cường ở huyện Thống Nhất đang kiểm tra hệ thống tưới tiết kiệm cho vườn hồ tiêu.
… đến cách chuyển giao cho nông dân
Hệ thống tưới tiết kiệm có nhiều ưu điểm nổi trội này gắn liền với nhiều năm trăn trở, tìm tòi của thạc sĩ Huỳnh Thành Vinh, hiện là Phó Chủ tịch UBND huyện Thống Nhất, trước đây là Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai – người đầu tiên thiết kế hệ thống tưới tiết kiệm tại địa phương. Là một kỹ sư nông nghiệp với hơn 20 năm lăn lộn cùng với nông dân, ông thấu hiểu những khó khăn của nhà nông khi cây trồng thường bị khô hạn vào mùa khô dẫn đến sâu bệnh, năng suất, chất lượng đạt rất thấp. Từ những chuyến công tác đi học hỏi kinh nghiệm nước ngoài và tham khảo trên in-tơ-nét, ông cùng các cán bộ kỹ thuật trung tâm thiết kế mô hình tưới tiết kiệm kết hợp với bón phân qua đường ống. Từ kết quả vườn tiêu của ông Thắng, giờ đây nhiều nhà vườn trồng tiêu ở Đồng Nai triển khai áp dụng, năng suất trung bình của những vườn tiêu này đạt từ năm đến bảy tấn một ha, cao hơn gấp đôi so với các vườn tiêu chưa áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm (từ 2,5 đến ba tấn một ha)…
Hiện có hơn 5.000 ha cây trồng các loại ở Đồng Nai áp dụng mô hình tưới tiết kiệm kết hợp với bón phân qua đường ống, góp phần tăng 30% năng suất cây trồng trở lên, rất cần được nhân rộng cho nông dân cả nước…
read more →

Tặng 30 máy sạc tiêu cho nông dân trồng hồ tiêu tại Chư Sê

Hôm nay (15/10), Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí (PVFCCo) và Công ty CP Phân bón và Hóa chất Dầu khí Miền Trung (PVFCCo Central) tổ chức trao tặng 30 máy sạc tiêu (máy tuốt hạt tiêu) trị giá 150 triệu đồng cho 30 hộ nông dân nghèo, gia đình chính sách tại huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai có diện tích tiêu bị thiệt hại do đợt hạn hán đầu năm 2013.
Tham dự buổi trao tặng, về phía địa phương có các đ/c Nguyễn Hữu Tâm – Phó Chủ tịch huyện Chư Sê, đ/c Dương Đình Việt – Phó Chủ tịch Hội chữ Thập đỏ Gia Lai, đại diện UB MTTQ, Hiệp hội Hồ Tiêu Chư Sê cùng đại diện các Ban ngành địa phương; về phía PVFCCo có đ/c Nguyễn Hồng Vinh – UV HĐQT TCT và đ/c Trần Mạnh Hùng – Chủ tịch HĐQT PVFCCo Central.
Hoạt động nhằm mục đích để các gia đình có thêm công cụ phục vụ sản xuất, khắc phục khó khăn, tiếp tục gắn bó với sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống kinh tế gia đình. Đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị tiêu khi thu hoạch, qua đó cũng góp phần khẳng định và phát triển thương hiệu Hồ Tiêu Chư Sê ngày càng lớn mạnh cả ở thị trường trong nước và quốc tế.
Theo thông tin của tỉnh Gia Lai, hiện Huyện Chư Sê có hơn 3.000 ha hồ tiêu với khoảng 8.000 hộ nông dân tham gia sản xuất. Hồ tiêu Chư Sê là thương hiệu đầu tiên được Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức công nhận tại Việt Nam. Sản phẩm hạt tiêu Chư Sê có kích cỡ hạt lớn, vị cay và thơm rất đặc trưng. Bên cạnh sản phẩm truyền thống là tiêu đen, Chư Sê đã sản xuất thêm sản phẩm tiêu trắng và tiêu đỏ, là những sản phẩm có giá trị và lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. 
Dưới đây là một số hình ảnh:
read more →

Giá hồ tiêu liệu có “sập”?


Một chuyên gia của Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế (IPC) vừa cảnh báo: Diện tích hồ tiêu toàn cầu tăng mạnh khiến lượng cung sẽ cao hơn cầu và giá tiêu sẽ giảm trong năm 2015; thậm chí có thể xảy ra sự bùng nổ và phá sản về hồ tiêu. Để tìm hiểu rõ hơn, PV NNVN đã trao đổi với ông Đỗ Hà Nam (ảnh) - Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu VN (VPA) về nhận định này…
Thưa ông, liệu tình trạng ồ ạt trồng tiêu tại VN cũng như nhiều nước trên thế giới sẽ dẫn đến hậu quả nhãn tiền là giá hồ tiêu toàn cầu có thể “sập” trong một vài năm tới?
Theo tôi, khi giá bán so với giá thành sản xuất cao gấp 3 - 4 lần, tức đã dựng đứng rồi, thì sự ổn định về giá bán chỉ tồn tại ở một giai đoạn nhất định. Khi người ta đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng thì đương nhiên giá phải tụt xuống.
VN đã làm được một điều kỳ lạ là giữ giá tiêu cao liên tục trong 6 năm, từ 20.000 đồng/kg tăng lên tới 130.000 đồng/kg. Cũng vì giá ổn định mấy năm qua và lợi nhuận quá cao nên người người, nhà nhà cùng lao vào trồng tiêu, không chỉ ở VN mà ở rất nhiều nước trên thế giới. Tại VN, diện tích theo khuyến cáo của Bộ NN-PTNT là 50.000 ha, nhưng thực tế đã tăng lên trên 62.000 ha, tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Thậm chí nhiều vùng thổ nhưỡng không phù hợp người ta cũng đổ xô trồng như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam…
Việc cà phê, cao su, điều đồng loạt xuống giá thì diện tích hồ tiêu sẽ còn tăng nhanh nữa, thậm chí diện tích có thể tăng gấp đôi. Khi sản lượng tăng gấp đôi mà nhu cầu tiêu dùng tăng thấp, đương nhiên về mặt quy luật, khi cung đã vượt cầu thì giá sẽ rớt. Vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào để ngăn chặn được điều này và giữ giá hồ tiêu ở mức hợp lý, đây là một bài toán khó.
Ông giải thích thế nào khi 6 năm liên tiếp diện tích hồ tiêu cứ tăng vùn vụt nhưng đến giờ giá bán vẫn cao ngất ngưởng?
Đây là một điều rất đặc biệt, chưa một nước nào làm được. Theo tôi, yếu tố đầu tiên là do VN chiếm tỷ trọng tới 50% lượng tiêu giao dịch toàn cầu; thứ 2 là nông dân trồng tiêu VN có sự thống nhất rất cao (giá xuống đồng loạt giữ hàng không bán), khi thị trường giá xuống VN thường “im lặng”. Điều này được hình thành từ kết quả của nhiều năm, ban đầu một số hộ khá giả quyết giữ hàng khi giá sụt và sau đó thu lãi lớn khi giá tăng cao. Cứ thế, số người tham gia vào việc giữ hàng các năm sau nhiều hơn năm trước và dần hình thành một cách kinh doanh đặc biệt của nông dân trồng tiêu VN.
Đến bây giờ, đời sống của người trồng tiêu đã khá lên, nông dân coi việc “găm” hàng là một trong những nghề kinh doanh. Tất cả nông dân trồng tiêu đều làm như vậy, họ không còn hoảng hốt như trước đây nữa, họ coi cây tiêu là cây làm giàu và coi nó là tiền tệ (thích thì bán, không thích thì cất đi). Thậm chí có giai đoạn nước ngoài dừng cả tháng trời không mua tiêu, nhưng nguồn hàng từ VN vẫn không hề lay động. Thậm chí qua giai đoạn “nắn gân” nhau, giá tiêu còn nhảy lên nhanh hơn, từ 120.000 lên 130.000 đồng/kg.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang rất lo về sự bùng nổ diện tích và sản lượng tiêu toàn cầu. Hiện Ấn Độ có diện tích tiêu lớn nhất thế giới với 700.000 ha năng suất 3 tạ/ha, Sri Lanka 5 tạ/ha, Indonesia, Malaysia, Brazil 1 tấn/ha, còn VN cao nhất đạt 2 tấn/ha. Vì thế, khi diện tích hồ tiêu tại VN tăng nhanh thì sản lượng toàn cầu cũng sẽ tăng rất nhanh vì năng suất của ta quá cao.
Theo ông, nên làm gì để nông dân hạn chế việc mở rộng diện tích hồ tiêu đang vượt xa quy hoạch hiện nay?
VPA đã có rất nhiều văn bản khuyến cáo nên giữ diện tích hồ tiêu ở mức ổn định thị trường, nếu cứ tăng cao nữa sẽ hết sức nguy hiểm. Đặc biệt là nhiều hộ dân chỉ chú trọng vào diện tích, không quan tâm đến chất lượng và phòng trừ dịch bệnh sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. VPA cũng đã đề nghị Bộ NN-PTNT kêu gọi các địa phương, chỉ đạo các Sở NN-PTNT và yêu cầu các xã vận động người nông dân không phát triển “nóng”, tập trung nâng cao chất lượng để tạo sự bền vững trong sản xuất cũng như thị trường. Chúng tôi cũng kêu gọi các cơ quan báo chí thông tin nhiều hơn nữa cho người nông dân để hạn chế việc phát triển ồ ạt, tránh rơi vào tình cảnh cung - cầu mất cân đối nghiêm trọng trong thời gian tới.

(Theo Báo Nông nghiệp Việt Nam)
read more →

Nhận biết bệnh chết nhanh chết chậm trên hồ tiêu và các loại nấm!

Vạch mặt Nấm bệnh hại rễ đó là: Rhizoctonia sp, Fusarium sp, Lasiodiplodia, Pythium, Rhizoctonia tuyến trùng… làm tiêu chết nhanh. Các loại nấm này thường có trên chuối, cao su – 2 loại cây trồng xen với tiêu. Tuyến trùng hại rễ tiêu: Meloidogyne, Pratylenchus, Xiphinema…
Tuyến Trùng
Tuyến trùng chích hút, bơm các độc tố vào rễ, tạo nên các nốt u sần, làm rễ cong queo, giảm khả năng hấp thu nước, dưỡng chất khiến cây sinh trưởng kém, cằn cỗi, lá vàng vọt, héo, chót lá đen dần rồi rụng. Bệnh sẽ nặng hơn nếu kết hợp có nấm bệnh, vi khuẩn làm thối rễ.
Phòng trị: đào mương thoát nước để hạn chế tuyến trùng lây lan, tăng cường bón vôi (vì tuyến trùng thích đất hơi chua), bón phân hữu cơ hoai mục (vì trong phân hữu cơ có nhiều vi sinh vật, đối kháng), hoặc rải thuốc.
Rệp sáp giả (Pseudococcidoe): gây hại đọt non, lá non, chùm quả, dây tiêu trên mặt đất.
Phun rửa bồ hóng, bột rệp sáp bằng nước có áp suất lớn. Phun thuốc trừ sâu trên cây, mặt đất
Đối với gốc tiêu, dây tiêu dưới mặt đất, bị rệp chữa trị tương tự như phần chữa trị tổ mối.
Rệp sáp:
Xuất hiện và gây hại chủ yếu trong mùa nắng. Rệp sáp bám chặt vào mặt dưới lá, gié hoa, trái để chích hút nhựa làm lá khô, trái khô, rụng. Rệp còn cư trú dưới đất, gốc cây để chích hút chất dinh dưỡng trong rễ, thân làm cây sinh trưởng kém, còi cọc.
Trong quá trình chích hút rệp sáp thải ra dịch có chất đường tạo điều kiện tốt cho nấm bồ hóng phát triển dẫn đến việc giảm khả năng quang hợp của lá, tạo môi trường cho vi khuẩn xâm nhập.
Phòng trị: phun thuốc đặc trị
Rầy mềm (Toxoptera sp), bọ xít muỗi (Diconocoris sp): gây hại đọt non, lá trái, dây tiêu.
Phun thuốc tiêu diệt:
Bọ đầu dài đục dây (Lophobaris sp), bọ ăn lá: gây hại mắt dây, dây cuống hoa, lá.
Lưu ý:
Thường xuyên quan sát phát hiện sâu bệnh kịp thời.
Thuốc hóa học phải dùng luân phiên, không dùng 1 loại thuốc trong thời gian dài.
Phun thuốc cần tiến hành đồng bộ để tránh sự lây lan, phát tán sâu bệnh ra cả vùng.
Chết nhanh
 Bệnh chết nhanh (bệnh thối gốc, chết dây – Quick wilt, Phytophthora)
Cây bị héo nhanh, mép lá hơi co lại và trở nên vàng trước khi rụng. Thời gian từ khi dây tiêu héo, xuống lá rồi chuyển vàng, rụng ào ạt chỉ để lại dây, cành trơ trọi diễn ra chỉ trong vòng 7 – 10 ngày, sau đó cây chết trong vòng vài tuần lễ. Sau khi lá rụng quả bắt đầu nhăn nheo và khô. Các đốt cành và trái cũng bị rụng để trơ lại thân chính với vài nhánh khô héo bám trên trụ tiêu. Các trái tiêu bị lõm vào và méo mó. Các biện pháp xử lý đối với cây tiêu lúc này không mang lại hiệu quả.

Thông thường các lá phía dưới thấp bị bệnh trước sau đến các lá phía trên, lá bệnh vàng rụng xuống và tiếp tục chu kỳ lây lan bệnh.

Bệnh thường gây chết hàng loạt nọc tiêu, phòng trị rất khó khăn, tốn kém và ít mang lại hiệu quả. Bộ rễ đã bị nấm tấn công 1 – 2 tháng trước khi các triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài. Toàn bộ rễ bị thối đen nhất là phần cổ rễ, thân sát mặt đất bị thối rã, vỏ bong ra, có mùi hôi nhẹ (lở cổ rễ).
Bệnh do nấm Phytophthora parasitica var. piperana. Nấm sống dưới đất, thích ẩm, chủ yếu phát sinh phát triển và lây lan trong mùa mưa, nhất là giai đoạn giữa và cuối mùa mưa, đầu mùa khô.

Thông thường nấm Phytophthora kết hợp với các loại nấm sống trong đất khác như Pythium, Fusarium, Rhizoctonia… cùng tấn công lên tiêu làm cây tiêu chết rất nhanh. Nấm bệnh có thể lây lan đến hầu hết các bộ phận của cây như lá, rễ, thân, nhánh… đặc biệt là các bộ phận nằm trong và sát mặt đất. 

Trong điều kiện mùa khô, nấm tồn tại dưới dạng bào tử vách dầy hầu như không hoạt động và khi mùa mưa đến chúng hoạt động trở lại và lây lan trên đồng ruộng theo nước mưa. Ở các vườn có độ tuổi cây càng cao thì khả năng nhiễm bệnh càng lớn do sự tích lũy nguồn bệnh ở trong đất, cây sinh trưởng kém, sức kháng bệnh giảm. Nhiều vườn tỷ lệ nhiễm bệnh lên tới 75% đến 100%.

Bệnh thường xuất hiện trên các vườn tiêu từ 3, 4 năm tuổi trở lên và khi thấy trong vườn có 5 – 7 % cây chết thì phần lớn cây trong vườn đều đã bị nấm Phytopthora tấn công gây hại.

Bệnh phụ thuộc rất nhiều vào địa hình vườn hồ tiêu, nhất là ở vùng trũng và khu chân đồi do mưa chảy dồn về, khó tiêu thoát, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho nấm lây lan, phát sinh và gây bệnh cho cây hồ tiêu.

Phòng trừ:

- Trồng cây với mật số vừa phải, không trồng dầy,  xén tỉa cành sát mặt đất khoảng 20 – 30cm

-Dùng PEUSDOMONAS tưới vào phần thân tiêu sát mặt đất để hạn chế sự xâm nhập của mầm bệnh.

- Xen canh: Theo kinh nghiệm các nước Ấn Độ, Philipinnes cho thấy trồng xen tiêu với cà phê, dừa … sẽ giãm bệnh chết nhanh.

- Sử dụng cây con sạch bệnh: Không lấy hom trong vườn đã bị bệnh chết nhanh, đất trong bầu phải được xử lý bằng nhiệt độ, formol… để trừ tuyến trùng, mầm bệnh…
- Giống kháng: Các giống tiêu khác nhau có tính chống chịu khác nhau đối với bệnh chết nhanh, chọn giống tiêu có tính chống chịu bệnh cao
- Hạn chế gây vết thương trên rể, thân… : Nấm gây bệnh sống trong đất và xâm nhập vào cây qua các vết thương do con người tạo ra khi chăm sóc hoặc do tuyến trùng, côn trùng chích hút như rệp sáp… điều kiện ngoại cảnh như gió mạnh làm dây tiêu cọ sát với cây choái, đặc biệt cây choái có gai như vông nem là nguyên nhân khiến cây bị lan truyền bệnh.
Mương thoát nước
- Đào rãnh thoát nước, để hạn chế bệnh chết nhanh, cần phải hạ mức thuỷ cấp xuống càng sâu, càng tốt, tối thiểu cũng phải bảo đảm 6 tấc (60cm) tính từ mặt đất trở xuống. Không để đọng nước, nếu cần phải lên mô để trồng. Trung bình cứ hai hàng tiêu, có một mương, mương vừa giúp thoát thuỷ vừa hạn chế tuyến trùng và mầm bệnh lây lan qua nước. 
- Bón phân hợp lý: Cần bón phân đầy đủ và hợp lý sẽ giúp tiêu chống chịu bệnh tốt hơn, chú ý bổ sung magiê và vôi. Phân hữu cơ hoai mục cũng rất tốt cho tiêu vì ngoài việc cung cấp thêm vi lượng cho cây, trong phân hữu cơ còn có hệ vi sinh vật đối kháng với mầm bệnh và tuyến trùng.
- Vệ sinh vườn: Thường xuyên thu nhặt tàn dư thực vật như lá, cành, rể … cây bệnh trong vườn mang đi tiêu hủy. Vườn tiêu bị bệnh không nên trồng lại ngay, cần tiến hành xử lý mầm bệnh và chờ ít nhất 6 tháng đến 1 năm mới trồng lại 
- Xử lý bằng sinh học : Vườn tiêu 2, 3 năm tuổi đã bắt đầu nhiễm bệnh, vì vậy sau trồng một năm nên đổ xuống gốc Peusdomonas 2-3 lần/năm (vào đầu, giữa hay cuối mùa mưa). Từ năm thứ ba trở đi có thể phun hay tưới gốc các loại thuốc đặc trị. Trường hợp vườn tiêu xuất hiện bệnh chết nhanh thì xử lý xen kẻ các loại thuộc sinh học 1lần/tháng, nếu tiến hành trồng trên vườn tiêu vụ trước đã bị bệnh chết nhanh cần phải phòng trừ bệnh ngay từ năm đầu tiên.
Bệnh chết chậm
Bệnh chết chậm do nấm Fusarium solani, Fusarium oxysporum, Lasiodiplodia, Pythium, Rhizoctonia  gây hại.
bệnh chết chậm thì tác nhân là rệp sáp, nấm Furasium gây ra; tuyến trùng tấn công vào bộ rễ của tiêu trong thời gian dài, làm rễ bị tổn thương khi gặp độ ẩm cao và lúc nhiệt độ thấp sẽ phát tán làm lá chuyển vàng, quả và đốt thân rụng dần rồi thối gốc.
Biểu hiện: Nấm làm cho rễ non bị thối và chết dần, cây không hấp thụ được dinh dưỡng, sinh trưởng kém, lá vàng và rụng, các đốt và rụng trái, phần mạch dẫn nhựa thân dây có màu nâu đen. Lá và đốt rụng từ dưới gốc lên ngọn, chứ không rụng và héo từ trên đọt xuống như bệnh chết nhanh. Khi bệnh nặng, toàn bộ gốc và rễ cây tiêu bị thâm đen, sau đó, cây bị chết khô. Bệnh kéo dài khá lâu, có thể trên 6 tháng hoặc vài năm trước khi cây tiêu bị hư hại hoàn toàn nên thường được gọi là bệnh chết chậm.
Bệnh thường xuất hiện trên những cây tiêu chăm sóc kém, bón ít phân hữu cơ, đất chua, ngập úng, thoát nước kém, ít thoáng khí, bón thừa đạm….
Phòng trị:
Việc phòng trị bệnh chết chậm cũng tương tự như bệnh chết nhanh. 
Trị dứt điểm rệp sáp, mối, tuyến trùng. Khi chăm sóc không làm sây sát thân làm nấm bệnh xâm nhập.
Trong mùa mưa luôn tạo cho vườn tiêu thông thoáng, thoát nước kịp thời. Bón phân cân đối, đặc biệt giữa đạm và kali, chú ý bổ sung các chất trung và vi lượng.
Cần phát hiện bệnh sớm, để khoanh vùng trị nhanh, đồng đều và triệt để. Khi vườn cây bị bệnh cần lấy vôi rải quanh vườn, rải nhiều quanh gốc cây bị bệnh. Phun thuốc.
Biện pháp phòng trừ:
1. Vệ sinh vườn tiêu để giảm nguồn ủ bệnh, thu gom và đốt lá bị rụng. Khi chăm sóc tránh gây tổn thương vùng rễ để mầm bệnh không có cơ hội xâm nhiễm vào cây, tỉa những nhánh ở dưới thấp gần mặt đất để hạn chế sự lây lan của mầm bệnh.
2. Giữ cỏ trong vườn tiêu theo ý muốn (không để cỏ mọc cao) hoặc tủ rơm rạ trong vườn tiêu nhằm tạo lớp thảm thực vật. Mục đích giúp hệ thống rễ tiêu phát triển tốt, đất có độ thông thoáng và tạo điều kiện cho các vi sinh vật có lợi phát triển.
3. Phòng trừ các đối tượng gián tiếp tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhiễm như rệp sáp hại rễ, tuyến trùng và côn trùng trong đất. Đào bỏ và đốt các cây bị bệnh, sau đó, xử lý vôi lân vào các hố trồng này.
4. Có hệ thống tưới tiêu thích hợp để ngăn ngừa nước tưới dư thừa, vì tình trạng đất bị úng nước sẽ tạo điều kiện cho các bào tử nấm bệnh xâm nhiễm và lây lan.
5. Không sử dụng các dây tiêu để nhân giống từ vườn tiêu bị bệnh hoặc vùng có độ rủi ro bệnh xuất hiện nhiều.
6. Tăng cường bón phân hữu cơ, phân đã hoai mục. Bón phân Nitrat canxi để giảm độ chua đất, phát triển bộ rễ và tăng sức đề kháng của cây đối với bệnh. Phun phân bón lá để cung cấp thêm phân NPK và vi lượng để cây phát triển tốt và tăng khả năng chống chịu với bệnh.
Về biện pháp hóa học:
Phòng ngừa cả hai bệnh: Sử dụng thuốc để phòng trước khi phát hiện bệnh sẽ mang lại hiệu quả cao hơn sử dụng thuốc để trị khi các triệu chứng đã thể hiện rõ. Phải luân phiên thay đổi thành phần hoạt chất của thuốc nhằm tăng hiệu quả phòng trị và hạn chế tính kháng thuốc của bệnh.
Bệnh rụng lóng – chết dây
Ngoài hai bệnh trên , bà con trồng tiêu cũng cần lưu ý đến bệnh “Rụng lóng chết dây” (tháo khớp).
Bệnh này cũng thường thấy trong mùa mưa, nguyên nhân có thể do nấm Rhizoctonia solani hay 
Do nấm Fusarium sp., nhưng trong nhiều trường hợp là sự kết hợp với các nấm khác như Lasiodiplodia, Pythium, Rhizoctonia cũng làm thối gốc gây hiện tượng chết chậm cây tiêu. Nấm tồn tại hàng năm ở trong đất, phát sinh phát triển trong đất bón ít phân hữu cơ, đất chua. gây ra. 
Triệu chứng chung là bệnh làm cho lá bị vàng, thối và rụng đi, sau đó lan dần vào lóng làm lóng rụng dần từ trên xuống (nằm rải rác dưới dốc tiêu do đó gọi là bệnh rụng lóng). 
Trường hợp bệnh do nấm gây ra, ta thấy hai đầu mắt lóng bị thâm đen trong khi phần giữa lóng vẫn còn xanh và nếu bệnh do vi khuẩn, quan sát ta thấy rễ bị thối nhũng, có mùi hôi, nếu cắt ngang thì thấy mạch bị thâm đen. Cây bị bệnh sẽ sinh trưởng chậm lại, tược non ra chậm, năng suất giãm nhiều, có trường hợp bệnh lan thành dịch rất khó phòng trị.
Để hạn chế bệnh xuất hiện và gây hại nặng , nhất thiết vẫn là việc phòng bệnh là chính, kế tiếp là xử lý bệnh bằng chế phẩm sinh học khi bệnh vừa chớm phát.
Trong những năm qua, do giá trị của cây tiêu cao nên diện tích trồng tiêu ở nhiều vùng đã gia tăng nhanh. Nhiều nơi, để tận dụng diện tích, bà con còn trồng tiêu xen với chuối, cao su. Đây là 2 loại cây thường lưu giữ nguồn nấm bệnh hại rễ như: Rhizoctonia sp, Fusarium sp, tuyến trùng… có thể gây chết tiêu rất nhanh.
Nguyên nhân trên, cùng với những biện pháp canh tác không hợp lý, thiếu kỹ thuật đã dẫn đến sự xuất hiện thường xuyên của nhiều loại sâu bệnh hại tiêu như: Mối, rầy mềm nâu, rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn, rệp sáp giả vằn, tuyến trùng, v.v…
Khoa học với nhà nông
Nguồn: mpd.vn
read more →

Công thức kinh doanh của “vua hồ tiêu” Việt Nam

Doanh nhân đứng đầu thị phần xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đúc kết bí quyết thành công: "Chào hàng + Chất lượng + Công cụ + Chăm chỉ! Đi và “chơi” cùng đối tác vừa và nhỏ!".

Trong bối cảnh hàng loạt doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ Việt Nam (VN) gặp khó khăn buộc phải đóng cửa, co hẹp hoạt động…, thì câu khẳng định “chắc như đinh đóng cột” nói trên hẳn sẽ bị nhiều người cho là… nói đùa.
Nhưng đây chính xác là câu nói tâm huyết của Phan Minh Thông – vị CEO trẻ tuổi của Công ty cổ phần Phúc Sinh – một DN tưởng chừng “bé hạt tiêu”, nhưng đã liên tục đứng đầu thị phần xuất khẩu hồ tiêu của VN trong 5 năm gần nhất, và hiện đang chiếm 6% thị phần xuất khẩu hồ tiêu thế giới, đồng thời chiếm 15-17% thị phần xuất khẩu hồ tiêu VN ra toàn thế giới.
Điều gì đã khiến Phúc Sinh đạt được thành tựu đó, và giúp doanh nhân Phan Minh Thông tự tin đến vậy?
Doanh nhân Phan Minh Thông sinh năm 1975. Anh tốt nghiệp ĐH Ngoại thương Hà Nội và khởi nghiệp bằng vị trí “chạy bàn giấy” ở một công ty chuyên xử lý nước thải Nhật Bản. Một năm sau, anh “Nam tiến”, ứng cử vào vị trí nhân viên phòng xuất khẩu ngành hàng hồ tiêu của Pitco – DN vừa được thành lập trước đó 3 tháng, trực thuộc Tổng công ty Petrolimex. Sau khi “set up” hệ thống xuất khẩu hồ tiêu cho Pitco, anh rời công ty nhà nước và chính thức khởi sự kinh doanh với số vốn ban đầu hoàn toàn từ vay mượn. Anh cho biết, kinh nghiệm bán hàng từ năm 10 tuổi tại một cửa hàng khô của gia đình, với dòng máu kinh doanh có sẵn từ tấm bé của người Hải Phòng – miền đất giao thương buôn bán, và bên cạnh đó là một khả năng chịu khó, chịu học, cộng các kỹ năng mềm chính là “thế mạnh” của anh.
Công thức kinh doanh: 4C
* Trước hết, anh có thể giới thiệu vắn tắt đôi chút về lịch sử của Phúc Sinh?
- Tôi bắt đầu khởi nghiệp Phúc Sinh ban đầu là Công ty TNHH từ năm 2001. Trong khoảng 5 năm kể từ khi thành lập, Phúc Sinh chuyên về xuất khẩu hạt tiêu. 5 năm đó, chúng tôi học hỏi được nhiều điều để 6 năm sau, “leo” lên vị trí thứ 1 trên thị trường xuất khẩu tiêu của VN. Điều làm chúng tôi tự hào là Phúc Sinh rất bé, vốn điều lệ thuở ban đầu chỉ vỏn vẹn 800 triệu đồng, sau tăng lên 26 tỉ đồng và hiện là 45 tỉ đồng. Nhưng như vậy vẫn là quá bé so với những DN trong cùng ngành hàng, những DN quốc doanh có vốn liếng và hạn mức tín dụng lên tới hàng nghìn tỉ đồng, hay một loạt công ty nước ngoài đang tham gia lĩnh vực này ở VN.
* Vậy điều mà anh học được để Phúc Sinh tiến lên vị trí số 1 là gì ?
- Chúng tôi học được nhiều thứ, đặc biệt là làm thế nào để bán được hàng. Theo tôi, bí quyết chính nằm ở khâu marketing – chào hàng. Cần hiểu marketing không phải là cứ đi một đoàn người, liên tục quảng bá về sản phẩm của mình. Tôi nhận thấy rằng muốn ra thị trường nước ngoài, người bán hàng phải hiểu văn hóa của người mua, nhu cầu của họ. Ngoài ra, chúng tôi còn có sự đầu tư rất nghiêm túc để nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này hỗ trợ lớn cho việc quảng bá và bán buôn sản phẩm tới tay khách hàng.
* Ai cũng nói về việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Cụ thể thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản được Phúc Sinh thực thì ra sao?
- Tại Phúc Sinh, chúng tôi đầu tư 4 nhà máy, chăm chút, tuyển chọn hàng hóa đầu vào đến từng công đoạn để cho ra sản phẩm, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng với chất lượng tốt nhất. Tùy thuộc vào ý muốn khách hàng mà Phúc Sinh giao hàng theo chất lượng, giá cả. “Tiền nào của nấy” mà. Chúng tôi có phòng thí nghiệm và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng 17025 và nhà máy sản xuất hoạt động theo tiêu chuẩn ISO 22000. Chúng tôi cũng có phòng thử nếm chế cà phê và chính tôi đã phải học cách thử nếm cà phê như một nhà trader cà phê chuyên nghiệp. Đôi khi ra nước ngoài các khách hàng bất thần muốn thử xem mình “có nghề” hay không, bằng cách thử “cup” cà phê này.
Hiện tại, Phúc Sinh cũng là một trong bốn công ty tại VN đang có nhà máy tiêu tiệt trùng. Hai trong số đó là nhà máy của DN Hà Lan và Mỹ, nhà máy còn lại của Tập đoàn Singapore. Trong quá trình các tập đoàn thế giới đến kiểm soát, đánh giá, chúng tôi luôn đảm bảo đạt điểm tối đa.
* Nhưng anh có thể chia sẻ tại sao đang rất vững chân ở hồ tiêu, Phúc Sinh lại “lấn” qua cà phê?
- Dĩ nhiên. Khi đã nắm bắt, làm chủ công thức kinh doanh của mình một cách hữu dụng, chúng tôi muốn làm thêm các mặt hàng khác. Cà phê là một thị trường lớn và sản lượng xuất khẩu hàng năm lên đến hàng triệu tấn. Tại VN, các văn phòng đại diện quốc tế hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê cũng đông hơn. Mặt khác, tại VN, sản lượng cà phê Robusta lại lớn nhất thế giới nên nếu bỏ qua lĩnh vực cà phê thì đó sẽ là thiệt thòi không nhỏ cho bất kỳ DN kinh doanh nông sản nào ở VN.
* Thực sự tôi chưa hiểu vì sao việc xuất khẩu cà phê của Phúc Sinh lại thuận lợi, ngay cả trong bối cảnh kinh tế toàn cầu trở nên xấu hơn, và các DN cà phê đầu ngành của VN thua lỗ nặng nề. Hẳn vẫn có bí quyết nào anh còn giấu ?
- Hai năm gần đây chúng tôi xuất khẩu cà phê trên 20 nghìn tấn/năm. Và chúng tôi sử dụng các công cụ để hỗ trợ và bảo đảm/thắng giá. Đương nhiên, cũng phải kết hợp các công cụ khác như vốn, kiến thức trong giao dịch hàng hóa thật và hàng hóa qua sàn quốc tế. Thường thì các công cụ này không có tổ chức nào dạy chi tiết cho mình, mà DN phải tự tìm kiếm, trải nghiệm, tự rút ra các cách sử dụng cho riêng mình. Tôi đã chăm chỉ học hỏi, “mài mòn quần” ở hàng chục quán cà phê, quán nước, quán nhậu với các đối tác, khách hàng là những tổ chức bậc thầy về việc dẫn giá trên thị trường quốc tế, để học các chiêu của họ.
* Nói như vậy, có thể đúc kết công thức kinh doanh của anh ?
- Đơn giản thôi: Chào hàng + Chất lượng + Công cụ + Chăm chỉ ! Đi và “chơi” cùng đối tác vừa và nhỏ !
"Đục tường" để bước ra thế giới
* Theo anh, thách thức với xuất cà phê VN nói chung hiện nay là gì ?
- Nhiều DN vẫn biết về các công cụ để bảo đảm/thắng giá trong giao dịch, nhưng sử dụng nó đúng lúc, đúng chỗ, và làm thế nào để quản trị dòng tiền, quản lý rủi ro lẫn lòng tham của chính mình là một câu chuyện khác. Quan trọng hơn, các DN ở ta thường có xu hướng… ngồi yên. Tôi cho rằng phải đi, phải tự mình vươn ra thế giới không thông qua bất kỳ ai. Năm đầu Phúc Sinh làm cà phê, nhiều người tiên đoán sẽ phá sản. Các văn phòng đại diện “xây tường” quanh Phúc Sinh. Chúng tôi khẳng định: Chúng tôi sẽ đục bỏ bức tường đó và bước ra thế giới. Và chúng tôi làm được.
* Những kinh nghiệm, mạng lưới, quan hệ ở thị trường hồ tiêu cũng là lợi thế hỗ trợ để anh đẩy mạnh xuất cà phê ?
- Cà phê là thị trường quá lớn và chỉ có cà phê, trong khi tiêu thì có thể thêm các gia vị như hồi, quế… Bản thân Phúc Sinh muốn đầu tư vào cà phê cũng không thể tận dụng mạng lưới đã có. Hơn nữa, nếu anh đứng số 1 về hạt tiêu, chưa chắc anh đã trụ lại được trên thị trường cà phê. Vấn đề là chúng tôi hiểu rất nhanh nếu chỉ bán cho các văn phòng đại diện tại VN thì DN chỉ có đi vào đường chết. Cũng như hồ tiêu, khi bán cà phê, tôi tìm các nhà sản xuất vừa và nhỏ trên khắp thế giới, họ đặt hàng số lượng ít nhưng đều đặn và liên tục. Họ có thể cho giá tốt hơn nhiều so với các DN tập đoàn lớn, thanh toán linh động hơn. Đây thực sự là con đường lớn để có thể đi. Nhìn chung, nếu các DN vừa và nhỏ VN theo cung cách này, tôi cho rằng đường đi ra thế giới vẫn còn rất rộng !
* Vậy Phúc Sinh có phải trả giá nào cho sự “hiểu rất nhanh” khi bước vào làm cà phê nhân xuấtkhẩu?
- Năm đầu chúng tôi lỗ 500.000 USD, tương đương 10 tỉ. Nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm làm. Cứ làm thì nó vỡ ra. Vấn đề là trong quá trình làm mình không ngừng học hỏi. Đồng thời không được ỷ lại vào công cụ quản lý rủi ro, đặc biệt trong vấn đề điều hành, điều phối việc buôn bán cà phê. Không nên xem đó là công cụ thần tiên.
* Dù thế nào thì dường như thị trường hồ tiêu cũng vẫn có sự cạnh tranh so với thị trường cà phê ?
- Hoàn toàn đúng. Nhưng chính xác hơn là trước đó đã có sự cạnh tranh tới mức hàng loạt văn phòng đại diện nước ngoài về hồ tiêu tại VN phải phá sản. Một năm, cà phê biến động 400 – 500 USD/ tấn thì năm ngoái, hàng hồ tiêu có mức biến động đến 3.800 USD/tấn. Nếu tính toán sai thì độ thua lỗ sẽ thế nào? Nhưng phải nói rằng dù bản chất thị trường là cạnh tranh khốc liệt, trong mọi giai đoạn Phúc Sinh đều không ngại cạnh tranh, cũng không xem các DN khác là đối thủ. Phương châm của chúng tôi là luôn liên kết với DN VN, cùng tiến!
* Vậy anh tìm kiếm khách hàng là những DN vừa và nhỏ khắp nơi trên thế giới như thế nào?
- Tôi thường xuyên đăng ký các hội chợ chuyên ngành. Có hàng chục hội chợ như thế diễn ra trên toàn thế giới trong mỗi năm. Mỗi hội chợ đều tụ họp rất đông đảo các DN vừa và nhỏ. Chi phí tham dự hội chợ thường khá đắt. Trước đây, nhiều DN Việt do không biết thông tin nên không đăng ký tham dự. Vả lại cũng không có nhiều DN muốn đầu tư. Bắt đầu từ năm ngoái, thông qua Hiệp hội hồ tiêu VN, tôi đã chia sẻ tất cả những thông tin mình có về các hội chợ chuyên ngành trên thế giới. Mỗi năm, chi phí để tham dự các hội chợ thương mại của Phúc Sinh ước tính khoảng 200.000 USD và hiện nay vẫn không ngừng tăng theo doanh số xuất khẩu. Có lẽ nhờ vậy mà năm 2010, Phúc Sinh đã trở thành DN đầu tiên của VN được Hiệp hội xuất khẩu hồ tiêu thế giới bình chọn là Nhà xuất khẩu xuất sắc về hồ tiêu và các sản phẩm hồ tiêu có giá trị gia tăng.
* Xin hỏi anh câu cuối: Đích đến, cũng như điều mà anh mong đợi nhất khi tham gia thị trường cà phê?
- Với hồ tiêu, chúng tôi đặt mục tiếp tục nắm giữ vị trí số 1 đã được khẳng định trong suốt 5 năm qua. Với cà phê, năm tới, mục tiêu của Phúc Sinh là tăng số lượng hàng xuất khẩu lên khoảng 40.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, chúng tôi luôn mong muốn Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê VN sẽ có sự chủ động, đấu tranh bằng mọi phương thức sao cho các Trung tâm giao dịch cà phê lớn nhất của thế giới phải tính đến chuyện đặt kho hàng cà phê Robusta tại VN. Khi các kho hàng không đặt tại VN, DN Việt mất đi rất nhiều lợi thế.
Ngoài ra, tôi cũng nghĩ, và nhắm tới việc làm thế nào để mở ra, nhân rộng một trường đào tạo chuyên về giao dịch hàng hóa nông sản, căn cứ trên thực tiễn giao dịch chứ không phải trên sách vở như một số đơn vị giao dịch hàng hóa đã làm. Thật vô lý khi chúng ta có sản lượng Robusta lớn nhất thế giới, có khối lượng xuất hàng năm rất lớn ra thị trường quốc tế, mà những điều cơ bản đó chúng ta lại chưa xây dựng được!
* Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này !
read more →

Nâng cao khả năng cạnh tranh của hồ tiêu Việt Nam


Nông dân Cam Lộ, Quảng Trị thu hoạch tiêu
Việt Nam, Indonesia, Ấn độ, Brazil, Malaysia và Srilanka là 5 nước chiếm hơn 95% sản lượng tiêu xuất khẩu thế giới, trong đó Việt Nam chiếm 44% tổng lượng xuất khẩu và đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu hạt. Nước nhập khẩu tiêu lớn nhất là Hoa kỳ chiếm khoảng 24% lượng tiêu xuất khẩu toàn cầu; đứng thứ hai là Đức 10%; các nước tiếp theo là Hà Lan, Singapore và khối Arab, mỗi nước chiếm tỷ trọng khoảng 4-5% trong năm 2010.  
Từ sản xuất
Tiêu được trồng ở Việt Nam đã trên 200 năm nhưng chỉ được mở rộng diện tích từ năm 1990, nhất là sau năm 1998 khi giá hồ tiêu tăng cao với tốc độ tăng diện tích tiêu trung bình 11,7%/năm và 6,2%/năm trong 10 năm tiếp theo. Đến hết năm 2010,  diện tích trồng tiêu tại Việt Nam đạt khoảng 51.000 ha, trong đó diện tích thu hoạch chiếm 80%.
Vùng trồng tiêu lớn nhất hiện nay tập trung ở các tỉnh Đông Nam bộ, chủ yếu ở 3 tỉnh Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai. Vùng tập trung thứ hai là Tây Nguyên, phân bổ chủ yếu ở 3 tỉnh Đăk Nông, Đăk Lăk và Gia Lai. Đây là những vùng có nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu thích hợp với cây tiêu, còn nhiều  tiềm năng để tăng diện tích và năng suất.
Năng suất tiêu Việt Nam cao hơn nhiều so với bình quân chung của thế giới, năng suất thu hoạch bình quân đạt khoảng 2,2 tấn/ha, nhiều nơi đạt 4-5 tấn/ha, thậm chí còn cao hơn, đặc biệt một số vùng ở Gia Lai. Sản lượng hạt tiêu đã tăng đáng kể từ sau năm 1998, từ 15.000 tấn đến nay lên hơn 110.000 tấn, bằng hơn 1/3 sản lượng tiêu toàn cầu. Kể từ năm 2002, Việt Nam trở thành nước đứng đầu về sản lượng và là nhà cung ứng hồ tiêu lớn nhất trên thị trường tiêu thế giới. Việt Nam đã có 18 nhà máy chế biến tiêu sạch, công suất khoảng 70.000 tấn/năm (2010), trong đó có 14 nhà máy có công nghệ khá hiện đại, xử lý tiêu qua hơi nước, tạo ra các sản phẩm sạch đạt tiêu chuẩn của Mỹ (ASTA), châu Âu (ESA), Nhật Bản (JSSA).
Năng suất hồ tiêu Việt Nam hàng đầu thế giới
Ngoài sản phẩm tiêu đen sạch, chế biến tiêu trắng (tiêu sọ)ngày càng được chú trọng hơn với tỷ trọng xuất khẩu ngày càng tăng, 3 năm gần đây chiếm đến 17-19% tổng sản lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam. Từ năm 2009, xuất khẩu tiêu sọ Việt Nam đã vươn lên hàng đầu và đóng góp đến 50% lượng tiêu sọ xuất khẩu thế giới. Hạt tiêu Việt Nam có chất lượng hương vị (thơm, cay) khá cao, không thua kém tiêu của Indonesia và Ấn Độ. Các vùng tiêu ở Phú Quốc và Bắc Trung bộ có ưu thế về khí hậu giúp tiêu có hạt chắc và hương vị đặc trưng.
Việt Nam có lợi thế quan trọng là chi phí nhân công thấp, lao động cần cù và nhiều ý tưởng sáng tạo đã xây dựng những vườn cây có chi phí thấp nhưng năng suất cao, cho phép tiêu Việt Nam nắm giữ ưu thế trên thị trường ngay cả khi giá cả sụt giảm.
Đến thị trường
Tỷ lệ xuất khẩu chiếm 95% sản lượng sản xuất tiêu hàng năm, mang về lượng ngoại tệ khoảng 450 – 500 triệu USD/năm (so với 100 triệu USD/năm của 10 năm trước). Đây là thành quả tổng hợp của việc tăng năng suất cộng với phát triển công nghệ chế biến, sản phẩm hạt tiêu trắng hiện nay chiếm đến 17-20% trong tổng xuất khẩu tiêu hiện nay so với 4% đầu những năm 2000.
Tiêu Việt Nam đã đến được 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Thị trường nhập khẩu tiêu của Việt Nam khá đa dạng. Trước năm 2000, Việt Nam xuất khẩu tiêu chủ yếu sang các nước châu Á, đặc biệt là Singapore. Đến nay, thị trường châu Á vẫn phát triển, thị trường châu Âu tăng mạnh, các thị trường khác như châu Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ (chiếm 15%) và các nước châu Phi đều tăng đáng kể.
Giá tiêu đen biến động mạnh từ những năm 1970, đến đầu những năm 1990 tăng ổn định. Từ năm 1998 khi sản lượng tiêu bắt đầu tăng mạnh thì giá lại giảm, và sau đó tăng trở lại vào năm 2004 cùng mùa bội thu ở Việt Nam. Suy thoái kinh tế góp phần làm giá tiêu giảm vào năm 2009 nhưng phục hồi 1 năm sau đó cho đến nay. Hiện tại giá cả của Việt Nam còn thấp hơn so với một số đối thủ cạnh tranh như Malaysia, Ấn độ, Thái Lan.
Cây hồ tiêu được trồng ở 70 nước trên thế giới với tổng diện tích 476.514 ha (IPC 2010). Diện tích được phân bổ tập trung chủ yếu tại các nước vùng xích đạo. Ấn Độ, Indonesia chiếm gần 70% diện tích tiêu toàn cầu. Năng suất tiêu thế giới khoảng 0,7 tấn/ha và tăng rất chậm. Các nước có diện tích rất lớn như Ấn Độ, Indonesia đều có năng suất bình quân năm cao nhất khoảng 0,4 tấn/ha. Thái Lan và Việt Nam có năng suất khá cao bình quân khoảng 2,2 tấn/ha nhưng sản lượng tiêu của Thái Lan không lớn. Tổng sản lượng tiêu thế giới chỉ tăng bình quân khoảng 0,6%/năm trong 10 năm (2001-2010), năm 2010 là 338,38 ngàn tấn.
Cùng với sự lớn mạnh của ngành tiêu, Việt Nam đã dần hình thành các công ty xuất khẩu tiêu lớn. Trong gần 200 doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu hồ tiêu hiện nay (trong đó 13 doanh nghiệp nước ngoài) có hơn 70 doanh nghiệp tham gia chế biến xuất khẩu hồ tiêu trực tiếp, trong số này có khoảng 20 doanh nghiệp đạt năng lực xuất khẩu trên 10 triệu USD/năm.
Bên cạnh sự phát triển của các doanh nghiệp, Việt Nam đã xây dựng thành công thương hiệu Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai), từ đó đã chuyển hướng từ xuất khẩu hàng thô giá rẻ sang sản phẩm chất lượng tiêu chuẩn. Thương hiệu Hồ tiêu Chư Sê với chất lượng sản phẩm cao, đến nay đã có tiếng trong nước và đã được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ chú ý. Hiện nay, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) đang tiếp tục xúc tiến xây dựng thương hiệu hồ tiêu cho Bà Rịa-Vũng Tàu, Phú Quốc, Lộc Ninh (Bình Phước).
Nhu cầu hạt tiêu hiện nay không chỉ được sử dụng trong các món ăn, mà còn được dùng cả trong lĩnh vực dược phẩm. Dầu hạt tiêu cũng được sử dụng trong các lĩnh vực khác như mỹ phẩm, nước hoa, các sản phẩm vệ sinh cá nhân, như kem đánh răng, nước súc miệng…
Số liệu của Ủy ban Hạt tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy trong 10 năm kể từ 2001 tiêu dùng hạt tiêu thế giới tăng khoảng 3% mỗi năm. Ước tính trong dài hạn, thế giới sẽ thiếu hụt nguồn cung hạt tiêu khoảng vài chục ngàn tấn mỗi năm.
Và lợi thế so sánh của tiêu Việt Nam
Trong tình hình giá hồ tiêu duy trì ở mức cao như những năm gần đây, khả năng cạnh tranh của tiêu Việt nam là rất lớn. Điều này thể hiện rõ khi xem xét chỉ số chi phí nguồn lực nội địa (DRC) đã giảm từ mức 0,7 năm 2004 xuống còn 0,4 năm 2010, hệ số nhỏ hơn 1 chứng tỏ sự tăng lên về khả năng cạnh tranh của tiêu Việt Nam. Hệ số lợi thế so sánh trông thấy (Revealed Comparative Advantage-RCA) của mặt hàng tiêu Việt nam lớn hơn nhiều so với các nước cùng xuất khẩu tiêu trên thế giới. Dựa vào số liệu của Ủy ban Hạt tiêu Quốc tế (IPC) và Tổ chức nông lương thế giới (FAO), tính ra hệ số lợi thế so sánh trông thấy của mặt hàng tiêu Việt Nam năm 2010 là 84,6, gấp hơn 11 lần RCA của tiêu Brazil, Ấn độ, Malaysia, gấp 3,9 lần tiêu Indonesia.
Tuy là ngành xuất khẩu ưu thế, mang lại lợi ích cho nông dân nhưng Chính phủ không có chính sách bảo hộ. Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa (norminal protection rate) NPRhồ tiêu
.
Những phân tích trên cho thấy, khả năng cạnh tranh của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới rất cao, khi thị phần thương mại của Việt Nam ngày càng vượt trội và giá hồ tiêu thế giới ngày càng cao. Nhiều loại tiêuViệt Nam có chất lượng khá tốt như tiêu Phú Quốc có chất lượng tương đương tiêu Indonesia và Ấn Độ, tiêu Chư Sê có các đặc trưng về độ bóng, hạt to đều, hương thơm đặc trưng, dung trọng cao, có danh tiếng trên thị trường thế giới, kể cả những thị trường khó tính như EU và Mỹ. Các doanh nghiệp kinh doanh hồ tiêu đã có khả năng xuất khẩu trực tiếp cho những nhà cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia vị ở các nước.
Tuy nhiên, sản xuất tiêu chủ yếu là do khu vực hộ cá thể thực hiện, quy mô nhỏ, khả năng kiểm soát dịch bệnh kém. Dịch bệnh đang đe dọa khả năng phát triển bền vững của ngành hồ tiêu Việt Nam. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu tiêu trong nước còn yếu cả về vốn, kinh nghiệm thương mại quốc tế và quản trị rủi ro. Khủng hoảng kinh tế thế giới nhất là khu vực châu Âu và Mỹ có thể kéo dài vốn là những thị trường xuất khẩu chính của tiêu Việt Nam. Các doanh nghiệp ngành tiêu cần đẩy mạnh đa dạng hóa các thị trường để giảm thiểu rủi ro thị trường xuất khẩu.
Theo: Hải Sơn (Báo Gia Lai điện tử
read more →